Thứ tư, 22/11/2017 08:27

Tăng trưởng tín dụng và những thách thức của ngành ngân hàng Việt Nam

Việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cao nhiều khả năng sẽ đi kèm với sự quay trở lại của một đợt tăng nợ xấu trong khi việc xử lý chúng đang gặp nhiều khó khăn là những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong thời gian tới.

Tăng trưởng tín dụng và những thách thức của Việt Nam.

Thấy gì từ những con số?

Theo FinanceAsia, mục tiêu đạt được tăng trưởng GDP 6,7% trong năm 2017 của chính phủ Việt Nam có vẻ như là “hơi nhiều” đối với tình hình của Việt Nam hiện tại. Năm 2016, Việt Nam đã không đạt được mục tiêu nhưng với mức tăng trưởng trong quý III năm nay đạt 7,5% thì nhiều khả năng mức tăng trưởng trên là có thể đạt được.

Vấn đề ở chỗ là Việt Nam đang cố đạt được tham vọng của mình bằng cách thúc đẩy tăng trưởng tín dụng đến mức mà nhiều nhà quan sát cho là quá cao. Trong 10 tháng đầu năm, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đã đạt 13,5% không chênh lệch nhiều so với năm trước, nhưng trong tháng 8 chính phủ đã nâng mục tiêu từ 18% lên 21%.

Ông Kevin Snowball - Tổng Giám đốc của PXP Vietnam Asset Management tại TP HCM cho biết: “Chính phủ đã làm tốt nhiệm vụ duy trì tăng trưởng GDP nhưng việc cố định con số 6,7% đã khiến cho các bánh xe phải chạy nhanh hơn để đạt được nó”. Ông bày tỏ lo ngại tăng trưởng tín dụng quá mức có thể khiến suy thoái kinh tế quay trở lại. Ông cho rằng điều này không tốt cho sự ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn của đất nước và việc đặt một mục tiêu thấp hơn một chút sẽ có ý nghĩa hơn, nhất là gắn với tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thế giới.

“Mức tăng trưởng hiện tại là tốt, nhưng nếu nó vượt lên trên 20% thì chúng ta có thể bắt đầu phải quan tâm đặc biệt đến một số bộ phận của nền kinh tế, những lĩnh vực được cung vốn lớn như xây dựng và tài chính tiêu dùng”.

Ông Dominic Scriven

Ông Dominic Scriven - Chủ tịch Quỹ đầu tư Dragon Capital cũng đồng tình với nhận định trên khi cho biết, năm 2017 thực ra chỉ là năm thứ hai của tăng trưởng tín dụng thật sự kể từ khi Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng năm 2012 trước đó. Ông tin rằng mức tăng trưởng GDP hiện tại đã cao hơn 6,7% bởi vì cơ quan thống kê của chính phủ không giỏi trong việc nắm bắt tăng trưởng tại các lĩnh vực dịch vụ tư nhân, một trong những phần năng động nhất của nền kinh tế.

Tiến sỹ Marshall Stocker, CFA, Phó Chủ tịch Eaton Vance Management cho biết: "Chúng tôi cũng lo ngại chính phủ đang đặt mục tiêu GDP thông qua tăng trưởng tín dụng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng không phải là bất hợp lý đối với mức độ phát triển kinh tế của Việt Nam, nhưng vấn đề là Việt Nam chưa có ghi nhận trong quá khứ về thành công trong quản lý sự tăng trưởng dư nợ tín dụng".

Tăng tín dụng nhưng thiếu vốn

Duy trì mức tăng trưởng tín dụng cao sẽ không là vấn đề nếu ngân hàng có nguồn vốn mạnh, tuy nhiên ở Việt Nam lại không được như vậy. Chính phủ đã phải trì hoãn việc triển khai thực hiện Basel II và nhiều khả năng sẽ thay đổi cả mục tiêu cho đến năm 2020.

Công ty Chứng khoán VietCapital ước tính tỷ lệ an toàn vốn Basel I (CAR) của ngân hàng ở mức 12,8% và cho thấy các khoản vay cho GDP đã lên đến 124%, đưa ngành này trở thành “danh mục rủi ro". Những nhà môi giới cũng tính toán rằng yêu cầu tái cấp vốn cho các ngân hàng trên các tài sản xấu là từ 30 - 40 tỷ USD, chiếm từ 15 - 20% GDP.

Tỷ lệ nợ xấu đã tăng đột biến do khủng hoảng kinh tế năm 2012 với khối lượng nợ xấu lớn của các doanh nghiệp nhà nước phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và làn sóng phá sản năm 2007 tại Việt Nam.

Đầu năm nay, NHNN đã thừa nhận nợ xấu thực tế cao hơn mức báo cáo trước đó với tỷ lệ nợ xấu khoảng 8,86%. Sau cuộc khủng hoảng gần nhất, Chính phủ đã thành lập Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam (VAMC) nhằm góp phần tháo gỡ được vấn đề này. Nhưng VAMC lại có quá ít vốn chủ sở hữu chỉ với 200 tỷ đồng, mặc dù theo dự kiến sẽ được tăng lên 5.000 tỷ đồng vào năm 2018 và lên 10.000 tỷ đồng vào 2020. Về cơ bản, VAMC được xem như một cơ chế hạch toán tốt hơn cho các ngân hàng tốt hơn trong khi những rủi ro thực tế vẫn còn.

Những vấn đề của ngành ngân hàng càng tạo sức ép lớn hơn khi ngân hàng là nơi cung ứng vốn chủ yếu của nền kinh tế. Trao đổi với FinanceAsia, bà Natasha Ansell – Tổng giám đốc Ngân hàng Citi Việt Nam cho biết: “Thị trường vốn và nợ vẫn còn kém phát triển tại Việt Nam và mức bảo hiểm tiền gửi còn rất nhỏ so với số tiền gửi tiết kiệm, do đó người dân có rất ít lựa chọn. Nhưng hiện nay Chính phủ Việt Nam cũng đã nhận thức được đầy đủ về vấn đề này”.

Tìm kiếm đối tác nước ngoài: khó hay dễ?

Chính phủ có thể giải quyết bằng vấn đề vốn bằng cách cho vay tái cấp vốn đối với 7 ngân hàng quốc doanh nhưng một trong những vấn đề chính của các ngân hàng là phải chia cổ tức cho chính phủ, do đó nguồn vốn này không được tái đầu tư. Trong những năm gần đây, Chính phủ đã khuyến khích các ngân hàng tìm kiếm các đối tác chiến lược nhưng điều này trở nên phức tạp do các yếu tố về kiểm soát của nhà nước hay việc định giá. Từ đó, làm giảm đáng kể những nhà đầu tư tiềm năng, nhất là các ngân hàng nước ngoài.

BIDV đã cố gắng tìm kiếm một nhà đầu tư chiến lược trong nhiều năm nhưng chưa thành công và Việt Nam có vẻ đã hết ngân hàng Nhật Bản để lựa chọn. Ví dụ, Bank of Tokyo-Mitsubishi nắm giữ 19,73% cổ phần tại VietinBank, Mizuho có 15% vốn của Vietcombank và Sumitomo-Mitsui nắm15% vốn Eximbank. Standard Chartered cũng có 15% cổ phần tại ACB, trong khi HSBC đã bán 20% cổ phần Techcombank vào đầu mùa hè này.

"Các ngân hàng quốc tế ít có khả năng xem xét một khoản đầu tư nhỏ ở địa phương vì ảnh hưởng đến vốn theo chuẩn Basel III của họ. Nhưng các quỹ đầu tư tư nhân và các quỹ đầu tư khác lại có sự quan tâm nhiều hơn".

Rehan Anwer - Giám đốc điều hành tại Credit Suisse

Sự thay đổi của ngành ngân hàng toàn cầu và ảnh hưởng của fintech cũng đồng nghĩa với việc các ngân hàng nước ngoài ít quan tâm đến các đối tác hơn vài năm trước.

Những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đưa ra bài học cho nhiều ngân hàng về tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư thiểu số và việc áp dụng chuyển giao công nghệ sẽ giúp họ trở thành những đối thủ đáng gờm hơn trong nước.

Tuy nhiên trường hợp của Vietcombank và đối tác Singapore’s Government Investment Corp (GIC) là một ví dụ điển hình cho khoảng cách của hai bên bán và mua. Ban đầu các cổ đông đã đồng ý bán 7,7% cổ phần với mức chiết khấu 30% so với giá cổ phiếu của ngân hàng vào mùa hè năm 2016. Nhưng Ngân hàng Nhà nước đã bác bỏ nó vì cho rằng mức giá như thế là quá rẻ và một số cổ đông hiện hữu cũng đồng ý. Do vậy, thoả thuận hiện vẫn ở trạng thái chờ xử lý.

Diệp Bình
Theo KTTD, Vietnambiz

0 Bình luận
List Comment


0/1000