6 năm trước

Nhọc nhằn những kiếp phu trầm

Đời người là những chuyến đi. Với nhiều người, những “chuyến đi” ấy trĩu nặng cơm áo gạo tiền.

Đời người là những chuyến đi. Với nhiều người, những “chuyến đi” ấy trĩu nặng cơm áo gạo tiền.

Và, với riêng mảnh đất nắng gió Quảng Bình, cái đói, cái nghèo đã và đang thúc giục nhiều bước chân lên rừng làm kiếp phu trầm. Những chuyến đi đó đong đầy hy vọng nhưng phần lớn chỉ có nỗi đau trở về.

“Kỳ hoa dị thảo” chốn rừng thiêng 

Từ những năm 80 của thế kỷ trước, người dân ở một số tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị đã bắt đầu biết đến nghề đi tìm trầm. Cũng trong ngần ấy năm, người dân nơi gió Lào, cát trắng này nhiều lần phải chứng kiến những cái chết của phu trầm vì rừng thiêng nước độc. Thế nhưng, sự nghiệt ngã đó vẫn không ngăn được nhiều người tiếp tục nuôi ảo mộng nhờ trầm. Bởi, những ngôi nhà khang trang của những phu phất lên nhờ trúng trầm luôn là niềm mơ ước, thế nên, ngày qua ngày, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, con theo cha, em theo anh, đoàn người đi về phía rừng chưa bao giờ dứt.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, trầm hương, kỳ hương có xuất phát từ gỗ thân già mục của cây trầm gió chuyển hóa mà thành; hoặc do một loại nấm gây nhiễm mục nát thân cây trầm gió rồi chuyển hóa tạo nên. Kỳ hương hay còn gọi là kỳ nam được tạo thành từ cây gió lâu năm. Gió có ba loại thường gặp: Gió lưỡi trâu; gió lang và gió bầu. Trầm hương có xuất xứ từ hai loại gió lưỡi trâu và gió lang. Còn cây gió bầu thì tạo thành kỳ nam. Gió tự mọc trong rừng, phát triển thành cổ thụ, thường mọc ở các vùng núi miền Trung, Đông y gọi kỳ nam là "già nam", ngoài ra còn có những tên gọi khác như: Già nam hương, mật kết, hổ ban kim ty kết và kỳ nam hương…


Phu trầm

Đặc điểm của trầm - kỳ là ở hương thơm, đặc biệt là kỳ. Những vật phẩm chế tác từ kỳ có hương thơm gần như là mãi mãi. Có những đồ trang sức người ta làm từ kỳ nam đeo vài chục năm vẫn còn tỏa hương thơm. Trong đông y, người ta thường dùng trầm để làm thuốc hơn là kỳ, bởi kỳ quá hiếm và đắt tiền. Trầm có tác dụng như bổ nguyên dương; bổ thận khí; trợ tim, trợ sức cho công năng vận hóa của tỳ thận, còn kỳ nam có công dụng chữa trị chứng đi tiểu không cầm được; giúp cho bền vững tinh khí; rất hay trong điều trị các bệnh tiêu hóa, bệnh khí thống...

Vì những lí do đó mà giá cả của trầm và kỳ càng ngày càng tăng chóng mặt. Chỉ trong vòng vài thập niên trở lại đây, trầm, kỳ trở thành một thứ được săn lùng hơn bao giờ hết. Người ta đổ xô đi tìm trầm, thế hệ này đi trước, thế hệ sau nối gót theo sau. Bỏ lại làng mạc, nhà cửa, ruộng vườn, con cái cho phụ nữ trông nom. Những ngôi làng vắng bóng đàn ông, chỉ có trẻ con, người già yếu và phụ nữ, không khác thời chiến là mấy.

Người đi tìm trầm không hẹn ngày về, đa phần kiếm được đồng nào thì gửi tiền về nuôi gia đình thông qua thương lái, còn không thì biệt xứ một vài năm là chuyện thường. Trong số những phu trầm thì cũng có một vài người trúng tiền tỷ, xây nhà cao cửa rộng, sắm xe sắm cộ, nhưng cũng không ít người tay trắng, phải mang thương tật suốt đời hoặc bỏ mạng nơi rừng thiêng nước độc, để lại những người vợ góa chồng và đàn con thơ dại.

Cay cực nghề trầm

Phu trầm thường đi theo từng đoàn, cứ từ 3-4 người thành một nhóm mà dân trầm gọi là xâu. Nhóm sẽ phân chia nhau đổ vào các cánh rừng dựng lán trại, thay phiên nhau tìm trầm, nấu ăn. Trung bình hàng ngày mỗi phu trầm phải lội 20 - 30km, cuối ngày thì về lại lán. Nhiều phu trầm nhiều khi đi lạc phải tìm lèn đá hoặc trèo lên cây cao ngủ qua đêm chờ sáng mới về. Lương thực họ mang theo thường đủ dùng trong một đến hai tháng, may mắn trúng được ít nhiều trầm thì họ ra khỏi rừng gọi điện cho chủ trầm để được chở về đồng bằng bán rồi tiếp tục đóng gùi quay vào rừng. Còn nếu như cả tháng không được cái gì thì các phu trầm phải “hãm” gạo lại, tìm thêm rau rừng mà ăn, đập vỏ cây tre nứa lấy nước uống. Gắng cầm cự hi vọng kiếm thêm chút đỉnh bù lại tiền đóng gùi. Nhiều xâu trước khi đi còn chuẩn bị thêm “ngải” - một loại dược thảo gần giống sâm giúp phu trầm cầm cự được giữa rừng sâu nếu không may bị lạc đường hoặc gặp thiên tai không về kịp.

Mỗi khi tới địa điểm tìm trầm, các phu trầm được chủ trầm bố trí cho chỗ ăn uống, nghỉ ngơi lấy sức từ 2 - 3 ngày. Lúc này, dân trầm được các chủ trầm cho ứng tiền để đóng gùi, chuẩn bị gạo, thức ăn, chăn màn, dao rựa, dụng cụ xoi trầm, hương hoa để cúng thần rừng. Khi phu trầm trúng thì bán lại cho họ, trừ nợ.

Cứ thế, vì miếng cơm manh áo đã dẫn bước những người đàn ông xa xứ. Dù biết trước rủi ro và những đau thương mất mát khôn tả nhưng họ vẫn lên đường, hệ lụy từ việc vắng bóng đàn ông, vắng bóng trụ cột gia đình cũng bắt nguồn từ đó. Nhưng cám dỗ ước vọng đổi đời từ những mảnh trầm dường như đã ngấm sâu vào tiềm thức của những con người nơi đây. Trong những mối hiểm nguy mà phu trầm phải đối mặt không chỉ là lạc sang rừng các nước láng giềng rồi bị cảnh sát bắt, họ còn gặp tộc người hung dữ mà họ thường gọi là Mẹo. Những người Mẹo này hễ gặp phu trầm là giết, cho nên nếu gặp Mẹo thì dù có mang trên người rất nhiều trầm trị giá tiền tỉ cũng phải bỏ của chạy lấy người. Rất nhiều xâu trầm bị Mẹo giết chết hết, trong đó có cả một gia đình. 

Kiếp phu trầm giống như tên gọi vậy, trầm luân khổ ải, chỉ biết hướng về tia sáng phía trước mà liều bước. Nguy hiểm rình rập không ngừng nhưng số phận của họ vẫn gắn với rừng thiêng nước độc. Vì đói nghèo, họ cũng chẳng biết tìm đâu kế mưu sinh ngoài chốn rừng sâu núi thẳm, dù chẳng ai trong số họ có thể đoán trước tương lai xảy ra những gì, là phúc hay là họa! Đỉnh điểm của tai họa ấy diễn ra vào cuối tháng 3/2013, năm phu trầm ở Quảng Trạch, Quảng Bình bị giết dã man trong lúc đi tìm trầm tại vùng rừng núi giáp ranh giữa xã Hướng Lập, Hướng Hoá, Quảng Trị; huyện Lệ Thuỷ, Quảng Bình và tỉnh Savanakhet - Lào.

Vụ án đã làm chấn động dư luận trong suốt thời gian qua. Những kẻ máu lạnh giết người không ghê tay rồi sẽ phải đứng trước vành móng ngựa. Nhưng sự trả giá của chúng có xoa dịu được nỗi đau của người còn sống? Có làm vơi đi gánh nặng cuộc đời?

Còn mãi những nỗi đau

Tính đến giờ, đã nửa năm trôi qua kể từ ngày năm phu trầm bị sát hại, thế nhưng, dường như nỗi đau vẫn còn rỉ máu và hành hạ những người đang sống. Nỗi mất mát không lời nào tả được hiện hữu trên những khuôn mặt khắc khổ, mòn mỏi đợi chờ. Giữa nắng cháy và gió Lào rát mặt, tiếng ai oán của những người mẹ khóc con, người vợ khóc chồng, con khóc nhớ cha bật lên não nề. Những gì đã qua và những điều đã mất dẫu biết không thể nào lấy lại được, nhưng vết thương mà người thân phu trầm phải mang khó có thể liền thành sẹo. 


Phu trầm Đỗ Văn Hiền, người sống sót sau vụ án ngày 23/3/2013

Chỉ vì mặc cảm với cái nghèo đeo đẳng, hai người con trai đã ở cái tuổi ngoại tứ tuần của bà cụ Hoàng Thị Nhung (82 tuổi, Quảng Minh, Quảng Trạch, Quảng Bình) vẫn quyết tâm theo đuổi nghiệp tìm trầm trong những cánh rừng heo hút bạt ngàn mà chưa lập gia đình. Quyết tâm thay đổi số phận mình bằng viễn cảnh giàu có sung túc khiến họ biền biệt nơi rừng thiêng nước độc, bỏ lại người mẹ già sống cô quạnh suốt năm này qua tháng khác với nỗi chờ đợi mỏi mòn. Nhưng tiền bạc, giàu sang đâu không thấy, họ lần lượt nằm lại giữa rừng xanh. Nhận được ái tin hai con trai bị kẻ xấu sát hại, trái tim người mẹ già chết lặng. Liệu có nỗi đau nào hơn thế? Giờ đây, người con trai còn lại của bà lại tiếp tục lên rừng, để bà bơ vơ giữa ngổn ngang của những nỗi đau và chờ đợi.

Trong năm nạn nhân xấu số đó thì Đinh Xuân Thân ở thôn Tân Sơn (xã Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình) là nạn nhân ít tuổi nhất. Tuy mới 19 tuổi nhưng từ lâu Thân đã là trụ cột gia đình không chỉ kinh tế mà còn là chỗ dựa tinh thần cho người mẹ bị bệnh tim. Sau sự ra đi của Thân, người mẹ đáng thương đó đã gần như suy sụp hoàn toàn. Không biết bao nhiêu nước mắt của chị đã đổ xuống trong những đêm hiu quạnh.

Còn về được như ông Nhiệm cũng có thể coi là may mắn. Nhiều phu trầm Thanh Hưng đã phải bỏ mạng nơi rừng sâu bởi sốt rét, rắn cắn, hổ vồ, gỗ đè hay bị lũ rừng cuốn mất xác. Chồng và em chồng của chị Nguyễn Thị X ở Thanh Hưng, huyện Bố Trạch cùng đi tìm trầm và bị lạc sang cánh rừng của Lào. Họ bị truy đuổi ráo riết trong rừng. Và lần đó, chồng chị X bị bắn chết, mãi nửa năm sau gia đình mới tìm thấy hài cốt để đưa về. 

Người ta đã nói rằng “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, thế nên ngay cả những người may mắn trở về cũng không ít người phải sống nốt phần đời còn lại trong bóng tối. Như trường hợp ông Nguyễn Văn Nhiệm ở Quảng Sơn, Quảng Trạch. Ông Nhiệm từng là một phu trầm mòn mỏi trên những chặng đường rừng suốt mấy chục năm ròng, song những trận sốt rét rừng ác tính trong mỗi chuyến đạp trầm đã vắt kiệt sức khỏe của ông. Ông trở về sau một trận ốm dài ngày và đã bị liệt cả hai chân, mọi sinh hoạt, ăn uống đều nhờ cả vào vợ và con trai đang phiêu bạt đâu đó bên các cánh rừng của Malaysia tìm trầm...

Song, có một điều đáng nói ở đây là sau những mất mát đau thương đó dường như vẫn không làm chùn bước chân những phu trầm khác, họ vẫn gùi đồ và lặng lẽ hướng về rừng…

 Nam Hoàng
theo Công Lý

Từ khóa: