Dantin - Sau hàng trăm năm tồn tại, lời thề nam nữ hai làng Vân Côn (xã Vân Côn, huyện Hoài Đức, Hà Nội) và Phú Hạng (xã Tân Phú, huyện Quốc Oai, Hà Nội) vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Càng đặc biệt, khi hiếm có ở đâu, tình đoàn kết, tương thân của người dân hai ngôi làng lại son sắt đến vậy.
Dantin - Sau hàng trăm năm tồn tại, lời thề nam nữ hai làng Vân Côn (xã Vân Côn, huyện Hoài Đức, Hà Nội) và Phú Hạng (xã Tân Phú, huyện Quốc Oai, Hà Nội) vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Càng đặc biệt, khi hiếm có ở đâu, tình đoàn kết, tương thân của người dân hai ngôi làng lại son sắt đến vậy. Điều gì đã làm nên mối quan hệ đó? Và tại sao nam thanh, nữ tú của hai ngôi làng nằm ở hai bờ sông Đáy lại không thể đến với nhau?
Tích xưa còn đó
Xuôi đại lộ Thăng Long hướng đường Láng - Hòa Lạc và mất gần một giờ đồng hồ, chúng tôi tìm được vào làng Vân Côn và làng Phú Hạng nơi được đồn đại có nhiều chuyện lạ, nhưng lạ nhất là chuyện nam nữ hai làng từ xưa đến giờ không kết duyên cùng nhau.
Đem chuyện hỏi bà Nguyễn Thị Quý, chủ hàng tạp hóa đầu làng Vân Côn, chúng tôi được bà kể cho nghe nhiều chuyện, trong đó có một phần câu chuyện kỳ thú mà chúng tôi đón đợi: “Hai làng kết nghĩa anh em lâu rồi, mà anh em có bao giờ lại lấy nhau”, bà Quý buông đôi câu khiến chúng tôi càng như bị thu hút.

Cụ Nguyễn Văn Mưa kể lại tích xưa.
Theo chân anh Lê Minh Thắng, con trai ông Lê Minh Đức (Trưởng ban di tích xã Vân Côn), chúng tôi tìm đến nhà cụ Nguyễn Văn Mưa, một cao niên sống trong làng Vân Côn, nguyên chủ tế của chùa làng. Khi vừa hỏi về nguyên cớ đưa đến chuyện lạ trên, cụ Mưa nói ngay: “Thực ra, nguyên cớ có từ tích truyện lâu rồi, từ thời Hai Bà Trưng cơ. Nhưng tập tục này có từ bao giờ thì lại không ai rõ. Chỉ biết rằng, mọi người rất tín cẩn và coi đó như một điều cấm kị thiêng không ai được phép vi phạm”. Theo cụ Mưa, tương truyền rằng, thời Hai Bà Trưng, dưới trướng các bà có rất nhiều nữ tướng xinh đẹp lại tài giỏi, kiên trung. Một trong số đó là bà Ả Lã Nàng Đê. Trước thế giặc mạnh, bà thà chết chứ không để lọt vào tay giặc nên khi cuộc khởi nghĩa thất bại, bà đã cùng hai chủ tướng trẫm mình xuống dòng sông Hát Môn. Thi thể của bà trôi xuống sông Hát Giang (tức sông Đáy nay) và mắc lại ở Vân Côn. Do sợ bị liên lụy, người dân không ai dám vớt xác bà mang chôn cất. Về sau xác bà trôi xuống đến làng Phú Hạng, người dân nơi đây cũng lo lắng, sợ hãi không kém. Nhưng rồi, người dân hai làng Vân Côn – Phú Hạng đã không đành lòng nhìn xác vị nữ tướng trôi dạt nên đã vớt lên chôn cất và lập miếu thờ cúng. Ở Vân Côn lấy tên là Quán Sông, còn Phú Hạng đặt tên Quán Ngọ. Và cũng từ đó, hai làng tôn bà là Mẫu rồi kết nghĩa anh em, sống hòa thuận với nhau cho đến tận bây giờ”.
Trọn tình anh em
Cụ Nguyễn Công Lý, một cao niên ở làng Phú Hạng, cho biết: Người dân cả hai làng bao đời nay vẫn tự hào về mối quan hệ sắt son, bền chặt đến kỳ lạ. “Nếu không tin, các cháu có thể hỏi bất cứ người dân nào trong làng. Nếu lỡ ra đường mà quệt xe vào nhau, nhưng khi biết là người hai làng thì hai người sẽ tay bắt mặt mừng rồi rối rít xin lỗi nhau, mời nhau về nhà ăn cơm.Chuyện trai gái hai làng không lấy nhau cũng bởi hai làng có mối quan hệ đặc biệt, coi nhau là anh em nên không thể lấy nhau” Cụ Lý nói giọng đầy tự hào.

Ngôi đền thờ bà Ả Lã Nàng Đê (trước) án ngữ ngay trung tâm làng.
Theo chị Nguyễn Thị Hạnh (làng Phú Hạng), trước đây trong làng cũng từng có một vài trường hợp các đôi bạn trẻ yêu nhau, nhưng khi biết được lai lịch thì cũng đành ngậm ngùi hẹn nhau kiếp sau, chứ chưa có ai dám phạm lời thề.

Những đứa trẻ hai làng Vân Côn – Phú Hạng vẫn vượt sông qua chơi với nhau.
Còn theo cụ Mưa (làng Vân Côn), từ khi hai làng thề nguyền, đến nay vẫn chưa hề có một trường hợp nào phá lệ. “Thời nay còn đỡ, chứ thời phong kiến, tục lệ này rất khắt khe. Lệ làng đề ra nếu ai vi phạm phải cắt tóc bôi vôi, gia đình phải mổ trâu, giết lợn chịu phạt vạ cho làng nên mọi người càng tôn trọng lời thề”.
Ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Vân Côn khẳng định: “Người dân hai làng, dù khác xã, khác huyện nhưng chưa bao giờ xảy ra xích mích, đánh nhau. Chúng tôi cũng luôn khuyến khích người dân hai làng qua lại với nhau nên ai cũng phấn khởi. Còn chuyện nam nữ hai làng lấy nhau thì chưa bao giờ xuất hiện”.
Cũng theo ông Sơn, câu chuyện về lời thề nguyền của hai làng năm xưa còn được đưa vào trong môi trường giáo dục nhà trường, khi các thầy, cô giáo cũ luôn nhắc nhở học sinh phải nhớ và phát huy truyền thống tương thân, tương ái giữa hai làng. Bởi vậy, đến Vân Côn hay Phú Hạng, hỏi đám trẻ của làng chúng cũng đều kể vanh vách chuyện xưa và quan hệ đặc biệt từ bao đời giữa hai làng.
Hòa Thắng – Quỳnh Trang