Mùa khai giảng đến, các em học sinh miền núi tíu tít đến trường. Nhưng, để bước chân đến trường của các em được trọn vẹn là sự cố gắng hết mình của các thầy cô giáo.
Mùa khai giảng đến, các em học sinh miền núi tíu tít đến trường. Nhưng, để bước chân đến trường của các em được trọn vẹn là sự cố gắng hết mình của các thầy cô giáo.
“Mùa đi học” này, chúng tôi đã tìm lên Túng Quán Lìn, một thôn cao so với mực nước biển đến hơn 2.000m để ghi lại cuộc sống khốn khó của các thầy, cô giáo nơi đây.
Đến với thôn nằm ở độ cao hơn 2.000m so với mực nước biển này, ngoài những khó khăn của người dân, nặng lòng nhất trong hành trình trở về của tôi ấy là các thầy cô giáo đang ngày đêm miệt mài dạy những đứa trẻ nơi đây. Nếu không có một tình yêu, lòng nhiệt huyết với nghề, nếu không có tình người, mà cụ thể hơn đó là lòng yêu trẻ thì tôi quả quyết họ không bao giờ có được một nghị lực phi thường để đến, ở lại và gắn bó với miền quê đầy heo hút này.

Vì những đứa học trò ở nơi xa ngái nên những người như cô Lài, thầy Hòa đã phải quên đi những khó khăn, cực nhọc của cuộc sống đời thường
Hôm lên Hoàng Su Phì (Hà Giang), qua Phòng Giáo dục huyện lấy thông tin ngành, rồi chọn một nơi xa nhất, gian khó nhất về giáo dục để vào, tôi đã được thầy Nguyễn Hải Vịnh, Trưởng phòng chỉ dẫn. Thầy bảo, giáo dục ở Hoàng Su Phì vô vàn khó khăn. Thế nhưng, tìm một nơi xa nhất, khó khăn nhất để tìm hiểu thì anh nên chọn Túng Quán Lìn. Vào đó có rất nhiều cái để anh viết nhưng sợ anh không kham nổi.
Có sở trường đi vùng cao, thấy thầy Vịnh nói vậy tôi biết cái hành trình mình sắp thực hiện sẽ khốn khó vô cùng. Tôi qua Đài Phát thanh Truyền hình huyện rủ một đồng nghiệp tên là Lê Phong đi cùng. Phong quen tôi đã lâu, thấy tôi rủ vào Túng Quán Lìn, Phong hơi cấn cá. Cậu ta cho biết, mọi nơi ở Hoàng Su Phì, tuổi xuân của cậu gần như đã đặt chân qua hết, ấy thế mà Túng Quán Lìn thì cậu chưa một lần nghĩ tới.
Đường từ trung tâm huyện đến xã Túng Sán khó đi và gian khổ. Hai anh em loay quay với chiếc xe gần ngày trời mới vào được xã vì đường bùn và lầy lội. Thôn Túng Quán Lìn chỉ cách xã có 7 km thôi nhưng không thể nhìn được vì lúc nào nó cũng “bọc” trong sương. Người dân ở đây bảo, hôm nào quang đãng lắm mới nhìn thấy mấy cái nóc nhà thoi thóp hiện ra. Và, thấy rõ nhất là mái prô ximăng, vừa là nhà, vừa là lớp học của mấy thầy, cô giáo trên đó.

Trường nơi cô Lài dạy trông xa như một tổ mối
Xã Túng Sán nằm ở trên độ cao tới 2.000m. Nằm ở độ cao này, gió sương vần vũ, chẳng có loài cây nào sống nổi ngoài cây sa mộc. Nhưng đã vài chục năm hạt được gieo xuống, cây sa mộc ngắc ngoải chống sương, đội gió vươn lên mà độ lớn thân cây cũng chưa to quá bắp chân người lớn.
Túng Quán Lìn hiện có hai điểm trường. Gọi là điểm cho oai chứ thực tế nó chỉ là ngôi nhà trình tường, lợp tấm prôximăng, nằm tơ hơ giữa khoảnh đồi, bên con đường dân sinh duy nhất. Biết khí hậu khắc nghiệt nên khi dựng trường cho cô giáo ở và làm chỗ dạy học cho các em, người dân ở đây đã cố tình kéo dài mái lợp ra. Ấy thế nhưng do gió to quá, sương và mưa quật dữ dội quá nên tường đất cứ bở tươm bở tướp. Nhìn xa hệt như một “tổ mối”.
Điểm trường đầu tiên, gần đường nhất vừa là nơi ở, vừa là nơi dạy học của cô giáo Phạm Thị Hoa Lài. Lúc chúng tôi vứt xe bên vệ đường để lần hồi trong nhớp nhúa bùn đất tìm lên thì cô Lài đang ngồi sưởi cạnh chiếc bếp hừng hực than củi. Thấy khách lạ, lại là khách miền xuôi tìm lên như chúng tôi, cô Lài quên cả mệt nhọc, bật dậy đón tiếp. Cô bảo, đã lâu lắm rồi không gặp khách miền xuôi. “Khách” hàng ngày của cô chỉ là bọn học trò người Mông hay cha mẹ chúng đi qua tạt vào. Chuyện trò với họ, câu được, câu mất vì không biết hết tiếng của nhau.
Chúng tôi nhờ cô nấu bữa cơm tối. Cơm có rau cải xào với 2 quả trứng nóng hổi mà cô lấy từ ổ gà ra. Đây là nguồn bổ sung dinh dưỡng hằng ngày của cô. Cầm bó rau cải hoa đã nở toe toét, tựa như người miền xuôi để lại làm giống cho vụ sau, cô bùi ngùi: Trên đây khí hậu khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi nên có gieo được rau nhưng cô và người dân không dám ăn khi nó chưa ra hoa bởi ăn như vậy là không “năng suất”. Rau già là vậy, ăn không hết thì thu hoạch và cho vào thẩu để muối và ăn qua năm. Thực phẩm ở đây quanh đi quẩn lại chỉ có vậy. Cơm hết rau xào với trứng thì lại quay lại món… trứng xào với rau. Không xào thì luộc, cuộc sống chỉ có vậy thôi!

Vợ thầy Hòa hun hút chờ chồng trước ngôi nhà gió giật tốc mái
Chợ cách trường có 7km nhưng vì không có phương tiện nên không phải lúc nào cũng xuống được. Người như cô muốn đi chợ, cắm đầu lao xuống rồi lại ngược cổ đi lên cũng mất gần ngày trời đó còn là chưa kể đến 1 ngày nghỉ do sắp ốm vì cơ thể vận động tối đa quá. Ở đây, một năm cô chỉ có hai lần đi chợ. Lần đầu ấy là từ nhà vào trường sau hè và lần nữa là sau nghỉ Tết lại lên trường. Mọi thứ cần dùng cho 9 tháng tá túc tại trường đều được tính toán cho hai lần ấy. Mua tất, sắm tất cả rồi cho vào bao để buộc lại và gánh lên trường. Có nhu cầu gì phát sinh thì lại ngóng cổ xuống con dốc nơi cổng trường. Có người dân nào đi chợ thì tiện mà nhờ vả. Nhưng do dân nghèo, sinh hoạt phần lớn chỉ tự cung tự cấp nên việc có người mà nhờ cũng hết sức hãn hữu.
Lài nhớ nhất là ngày đầu tiên vào đây. Tới Phòng Giáo dục nhận lệnh điều động, hỏi Túng Quán Lìn ở đâu, một lãnh đạo di ngón tay gầy guộc trên chiếc bản đồ hành chính huyện, chỉ một điểm xã lắc xa lơ rồi nói: Cô sẽ vào chỗ này. Sáng, cán bộ xã nhận đưa cô đi cho cô gói xôi mà vợ anh hay gói đi nương rồi “chất” cô lên chiếc xe máy dã chiến. Xe phụt khói xanh, khói đỏ ọc ạch leo dốc, xé sương và xé gió đi lên. Hết đùn, lại đẩy đến quá chiều mới vào đến điểm trường. Giường chiếu chẳng có, anh cán bộ ghép tạm 2 cái bàn làm chỗ nghỉ tạm cho cô. Vơ tạm bó củi, cả cây cả gốc anh chất cho cô đống lửa rồi quẩy quả đi tìm Trưởng thôn giao việc mai cử người ra đón cô “gió” (người Mông trên đây hay gọi cô giáo là cô “gió”). Rồi anh ta lại vội vàng dắt xe xuôi dốc về xã không sợ vợ ngóng, con trông.
Tối ấy, một mình, chăn chiếu không có nên cô đã phải ngồi sưởi lửa cho đỡ lạnh và đỡ sợ. Cô bật khóc và định mai xuôi dốc, bỏ cái sự nghiệp trồng người sang một bên để kiếm việc gì đó sống. Nhưng sáng sau, dân và học sinh kéo đến. Mỗi người một việc, kiệm lời nhưng đều chân thành, với một thái độ hết sức tôn trọng để làm giường, làm bếp đun cho cô. Có những đứa học sinh mũi còn thò lò dụt dè chìa ra cho cô quả trứng còn nóng hổi rồi nói: Bố mẹ “tao” bảo đem cho cô. Cô bật khóc vì chút tình cảm thiêng liêng này. Rồi nhủ lòng ở lại. Rồi thành quen. Rồi bao mùa mây sương dằng dặc, đến nay cô chưa có ý định xa lũ trẻ, rời xa nơi mây gió đặc quánh và vần vũ này. “Nằm sương”, “gối gió” mới có học trò, mới có tình yêu thương là những cái đúc kết để Lài tự an ủi mình, có thêm nghị lực, đi theo nghiệp trồng người ở nơi sơn thẳm này.
Cũng ở Túng Quán Lìn, cách trường cô Lài chỉ “vài con dao quăng”, như cách nói của người Mông trên đây, nhưng có tới vài tiếng đi bộ là điểm trường của đôi uyên ương Vương Văn Hòa. Vợ chồng thầy Hòa trước dạy ở huyện Bắc Mê, nhưng mỗi người một xã. Để có điều kiện gần gũi nhau hơn, khi có thông tin điểm trường Túng Quán Lìn mới được mở nên vợ chồng thầy đã xung phong lên đây. Tuy xa hơn, khó khăn hơn nhưng chỉ có cách lựa chọn như vậy thì hai vợ chồng mới được ở gần nhau.
Hôm chúng tôi tìm lên, cận ngày khai giảng nhưng vợ thầy Hòa vẫn chưng hửng ẵm đứa con nhỏ ra cửa để ngóng chồng vì chồng cô có việc ra huyện mấy ngày chưa về. Trên đầu cô là chiếc mái nhà tông hốc cả đám vì đêm qua gió đại ngàn thổi mạnh, đã bốc đi mấy tấm lợp. Với ánh mắt buồn đến sâu thẳm, cô cho biết: Trên đây đài đóm, tivi đều không có. Mọi giao lưu với bên ngoài đều như cách biệt. Chúng em chỉ có giáo án, sách vở và những gương mặt học sinh là cái còn hiện hữu…
Hiện nay, chúng ta có trên một triệu giáo viên và có tới vài chục nghìn trường và điểm trường trên toàn quốc. Riêng huyện Hoàng Su Phì có 60 điểm trường, trong đó có những điểm trường heo hút như Túng Quán Lìn. Và, có những người thầy, người cô như cô Lài, vợ chồng thầy Hòa ngày đêm bám trụ, vượt khó, vượt khổ để đem cái chữ đến với những đám học trò nơi vùng cao heo hút này.
Thạch Lâm Sơn
theo Công Lý