Dantin - Người dân xã Phú Gia huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh cho biết ngoài tên gọi là đền Trầm Lâm thì họ vẫn quen gọi đền theo tên dân gian là miếu Trăm Năm.
Dantin - Người dân xã Phú Gia huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh cho biết ngoài tên gọi là đền Trầm Lâm thì họ vẫn quen gọi đền theo tên dân gian là miếu Trăm Năm.

Đền Trầm Lâm và giếng thần không đáy trước cổng đền
Đền tọa lạc ở một ngọn đồi cao nhất trong xóm Phú Thành, thuộc xã Phú Gia huyện Hương Khê. Toàn bộ khu di tích được xây dựng quay về hướng Nam, lưng tựa vào dãy núi Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, mặt trước hướng ra hồ Bình Sơn trung tâm thị trấn Hương Khê với kiểu nhà gỗ, mái ngói cổ kính.
Theo lịch sử ngôi đền, từ xa xưa đây là ngôi đền to lớn và linh thiêng. Nhưng do chiến tranh phá hoại và sự bào mòn của thời gian đền bị hư hại khá nhiều. Đến bây giờ di tích vẫn còn giữ lại được ba hạng mục quan trọng là ngôi đền, giếng nước và cổng Tam Quan.
Bước vào đền, có thể thấy ngay cổng Tam Quan với 1 hệ thống tường dài nối với nhau qua nhà quan tả, hữu với 2 cột to. Phía trên cột nơi cổng vào có 2 con Nghê đang đứng chầu. Ba mặt cột có trang trí họa tiết rồng phượng và các câu đối đã bị mờ, không còn nhìn rõ được.
Trước ngôi đền có 1 giếng nước hình bán nguyệt được cho là chưa bao giờ cạn nước. Tương truyền rằng nước ở trong hồ thay đổi mầu sắc theo bốn mùa. Mùa xuân xanh, hạ hồng, thu trắng và mùa đông nước đen. Đây là câu chuyện lưu truyền trong dân gian rất khó kiểm chứng, nhưng hết sức kỳ lạ là khi chúng tôi đến thăm đền Trầm Lâm vào những ngày đầu xuân thì làn nước trong hồ xanh ngắt một màu như viên ngọc bích tinh khiết.
Trong đền hiện giờ vẫn còn lưu giữ đôi liễn khắc do Thái tử Thiếu bảo Nguyễn Chính, nguyên là Tổng đốc Nghệ An cúng tiến: “Công phù đại địa trung hưng thánh/ Danh trấn nam thiên thượng đẳng thần” và bức hoành do 1 vị Trực cơ khâm sai đại thần cung tiến đề 3 chữ lớn “Nghiễn Thiên Muội”
Đền Trầm Lâm thờ “Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm kiêm lục quốc thanh y anh linh diệu ngọc linh ứng thiên thần”, là vị thần từng được các triều Lê - Nguyễn phong là “Thượng thượng đẳng tối linh thần”. Ngoài ra còn có 2 vị thần khác được thờ vọng là “Mã Hồng Công chúa” và “Thập nhị Thiên Tiên Nương”
Sự tích đền thiêng

Hàng nghìn người vun đón hội Hàm Nghi Sơn Phòng.
Theo lời kể của cụ Lưu Văn Khâm, người trông nom đền thì vào thế kỷ thứ XIV, khi triều đình nhà Trần bắt đầu suy sụp, triều Hồ lên thay. Lúc bấy giờ, nhà Minh (TQ) đã mượn cớ “phù Trần diệt Hồ” xâm chiếm nước ta đánh chiếm cả kinh thành Thăng Long và Tây Đô Thanh Hóa. Khắp nơi cảnh xương tan, máu chảy, nhân dân lầm than, bi thảm, tiếng than thấu tận trời xanh. Để cứu dân, thiên đình đã sai tiên nữ xuống trần để ra tay độ thế, giúp dân thoát khỏi nạn giặc giã.
Cũng trong thời gian đó, một người dân trong vùng Ấu Sơn đi vào rừng lấy củi nhưng đã bị lạc vào trong rừng đến đêm không biết lối ra. Khắp nơi chỉ có bạt ngàn cây cối và muông thú. Mệt lả vì đói, khát thì bất chợt phía xa, người đó nhìn thấy một giếng nước. Trên giếng nước xuất hiện một cô gái với bộ trang phục màu xanh biếc. Khi người lạc đường lại gần thì cô gái biến mất. Sau khi tìm được đường trở về nhà, người đó đem câu chuyện gặp cô gái kể với mọi người. Người dân trong vùng đã lập nên 1 cái miếu nhỏ bên cạnh giếng nước thờ Đức Thánh Mẫu và gọi là miếu Trầm Lâm.
Theo một số nhà nghiên cứu, sở dĩ có cái tên Trầm Lâm (Rừng chìm) là vào thế kỷ thứ IV đất Hương Khê chỉ là 1 hồ rộng, dưới đáy là 1 lớp than gầy. Sau đó đáy hồ nâng dần lên, nước hồ theo 1 vệt nứt đổ ra biển. Đất dâng lên đã vùi lấp những khu rừng….
Một truyền thuyết cũng còn lưu truyền ở ngôi đền cho rằng: Vào rạng tháng 9/1885, khi vua Hàm Nghi đến và nghỉ tại ngôi đền Trầm Lâm, vua đã viết Hịch Cần Vương và giao cho đại thần Tôn Thất Thuyết làm lễ bài yết tại 2 địa điểm là đền Trầm Lâm và đền Công Đồng (một ngôi đền gần đó).
Tối hôm đó, trời không trăng sao. Gần rạng sáng nhà vua vừa chợp mắt, trong giấc mơ, một vị tiên nữ trong bộ trang phục màu xanh hiện ra, báo mộng rằng: “Bọn giặc đang đưa quân vây bắt, nhà vua cần phải lo liệu”. Vua Hàm Nghi tỉnh dậy, lập tức truyền thiết triều, giao cho cận thần Tôn Thất Thuyết và triều thần vào làm lễ tạ ở đền Trầm Lâm.
Ngày 25 tháng 9 năm Ất Dậu (1885), vua Hàm Nghi sắc phong cho các vị thần được thế ở đền Trầm Lâm và đền Công đồng kèm theo các vật phẩm quý vì đã có công trong việc giúp vua chống giặc ngoại xâm.
Các vật phẩm đó gồm 2 con voi bằng vàng, 1 con voi bằng đồng, nghê màu đen, 2 thanh bảo kiếm, 35 cái xạc đồng, 1 đạo sắc, 2 chiếc xấp xoảng, 1 số quần áo, cờ thần… và nhiều vật phẩm quý báu khác. Đến bây giờ, sau hơn 200 năm, những vật phẩm quý báu đó vẫn được người dân ở đây lưu giữ cẩn thận.
Những năm 1930 - 1931, đền Trầm Lâm là cơ sơ của chi bộ Đảng Phú Gia. Những người cao tuổi ở xã Phú Gia vẫn còn nhớ về “hội thề” của những nhà hoạt động cách mạng ở đền. Đó là một đêm tối trời, đồng chí Mai Văn Phì, Bí thư đảng bộ, đồng chí Phan Quang Nậm, Phó Bí thư đảng bộ xã Phú Gia cùng rất nhiều chiến sỹ đã cùng nhau chích máu uống rượu thề cùng nhau sát cánh giết giặc, cứu nước.
Theo lịch sử Đảng bộ xã Phú Gia, từ năm 1965 đến 1972, trong giai đoạn cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ đang hết sức khốc liệt thì đền Trầm Lâm trở thành điểm dự trữ quân lương của bộ đội phục vụ chiến trường miền Nam.
Sỹ Thành