Dantin - Năm 2008, bốn xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình là Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung được sát nhập vào TP Hà Nội, trong đó Yên Trung là xã khó khăn nhất.
Dantin - Năm 2008, bốn xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình là Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung được sát nhập vào TP Hà Nội, trong đó Yên Trung là xã khó khăn nhất. Sau 5 năm trở thành “đất Thủ đô, người Thủ đô” những tiếng thở dài lo âu trước gánh nặng cơm áo gạo tiền vẫn luôn ám ảnh cuộc sống của nhiều hộ dân các xã miền núi này.

Trụ sở mới UBND xã Yên Trung khang trang, rộng rãi
Con đường nối từ UBND xã Yên Trung vào đến xóm Hương khoảng 5km đã được bê tông hóa. Gia đình anh Nguyễn Văn Bình (SN 1977) nằm ở điểm cuối cùng của con đường ấy, cũng chính là điểm đầu của con đường mòn nhỏ, ngoằn ngoèo nối liền lên đỉnh núi. Khi chúng tôi đến, ba bố con anh đang lúi húi rửa sọt măng tre ở nền giếng trước nhà. Đó là thành quả của chuyến đi rừng kéo dài từ tờ mờ sáng đến tận xế chiều của vợ chồng anh.
Quanh quẩn bên gốc lúa đồi ngô

Người dân vẫn phải sống dựa vào cây ngô, cây lúa.
Tay vẫn không rời chậu măng nước đục ngầu màu bùn đất anh Bình ngẩng lên chào khách, rồi nói: “Hôm nay trời nắng đẹp nên kiếm được nhiều. Cũng phải ngót hai yến. Mỗi cân măng tươi này, đem ra ngoài chợ bán cũng được từ 8-10 ngàn đồng. Đủ để đong gạo, mua mắm muối cho cả nhà trong một tuần”.
Ngồi cạnh bố, hai cô con gái của anh Bình cứ ngượng ngùng nhìn khách. Cô con gái lớn của anh năm nay học lớp 7 nhưng trông chẳng lớn hơn học sinh tiểu học là mấy. “Trông cháu nó nhỏ thế nhưng thạo việc lắm đấy. Từ nấu cơm, quét nhà, cho lợn ăn và cả đi rừng cái gì cũng biết. Mà bắt buộc phải biết ấy chứ. Ở đây, ngoài mấy sào lúa và mấy nương ngô, mọi thu nhập khác của gia đình đều phải trông chờ vào những chuyến đi rừng. Gạo thóc, mắm muối, quần áo của bọn trẻ đều từ đó mà ra cả”, anh Bình nói như giải thích khi thấy chúng tôi giơ máy ảnh lên chụp hai cô con gái của mình.
Gia đình anh Bình có 2 sào đất trồng sắn và 6 sào trồng lúa. Sắn trồng một vụ, lúa thì được hai, nếu tính tổng thu nhập từ hai loại nông sản này, mỗi năm vợ chồng anh cũng được hơn chục triệu đồng. Ngày trước, khi các cháu chưa đến tuổi ăn học, số tiền ấy đủ để chi tiêu hàng ngày và sắm sang được một vài thứ đồ dùng trong nhà. Nhưng đồ chưa kịp sắm đủ thì đứa lớn rồi đứa bé đua nhau cắp sách tới trường. Các loại tiền đóng góp phình ra mãi khiến cả hai vợ chồng dù cố gắng làm quần quật suốt ngày cũng chẳng để ra được đồng dư nào. Căn nhà cấp 4 chỉ rộng hơn hai chục mét vuông, dù đã chia đôi một bên làm phòng ngủ, nhưng căn phòng khách trông vẫn trống hoác. Ngoài một cái tủ đứng đựng ti vi và một cái giường đôi cũ kỹ, chẳng còn thứ gì giá trị. Bàn ghế không có, mỗi lần khách khứa đến chơi, anh chị lại trải chiếc chiếu cói xuống nền làm nơi “đón tiếp”. “Bộ bàn ghế cũng chẳng phải thứ gì tài sản quá lớn, thế mà mấy lần tích cóp định mua nhưng chưa kịp ra chợ lại đã triêu hết. Các chú ngồi tạm dưới này”, vừa trải chiếu mời khách anh Bình vừa nói như thanh minh.
Nhắc đến việc được trở thành “công dân Thủ đô” năm 2008, người nông dân người Mường bảo “cũng vui”, nhưng rồi vẫn phải nói: “Đó chỉ là bề nổi, là cái chung thôi”. Trên thực tế còn cuộc sống của những hộ thuần nông như vợ chồng anh ở xã Yên Trung thì vẫn vậy. “Anh tính, nghề nghiệp không có, đất đai thì chẳng rộng thêm ra. Quay đi quẩn lại vẫn chỉ trông vào cây ngô, cây lúa và đi rừng thôi. Đời mình chắc mãi thì vẫn thế, chỉ hy vọng các cháu về sau, chúng nó có điều kiện ăn học hơn, có nghề nghiệp đàng hoàng sẽ thoát li đi nơi khác để mà thoát nghèo”, anh Bình tâm sự.
Nỗi lo tái nghèo
Câu chuyện của chúng tôi bị ngắt quãng bởi tiếng động cơ gầm lên ngoài cửa. Anh Đinh Văn Thọ (SN 1982), hàng xóm cùng trong diện hộ nghèo như anh Bình đỗ xịch chiếc xe máy giữa sân. “Em có việc chạy đây chút. Cho em để nhờ cái xe tý anh nhé”, Người đàn ông trạc tuổi ngoài 30 vội vã bỏ đi chẳng kịp nhìn ai. Anh bạn đồng nghiệp chỉ vào chiếc Wave Honda còn khá mới nói vui: “Các anh hộ nghèo nhưng vẫn mua được xe máy thế này là cũng tươm rồi đấy chứ”. Câu nói ấy như chạm vào cái “vỉa ẩn ức” của chủ nhà. Anh nói như gắt, như than: “Đúng là nhìn vào chiếc xe máy ai bảo là hộ nghèo. Bây giờ còn đỡ, hồi mới sát nhập xe máy chạy đầy đường. Thậm chí có người sắm cả ô tô nữa. Nhưng đó đều là kiểu “bán máu” thôi. Đến khi hết “máu” thì đâu lại hoàn đó”.

Nguy cơ tái nghèo luôn rình rập.
“Bán máu” mà anh Bình nhắc đến chính là bán đất. Những ngày đầu sát nhập về Hà Nội, ở xã Yên Trung này hầu như hôm nào cũng có người tìm đến để hỏi mua đất. Những tin đồn về các dự án mới sắp được đầu tư cứ như thế được đồn lên, thổi bốc khiến giá đất nông nghiệp cứ lên vù vù. Thế là nhà nhà bán đất, người người bán ruộng. “Có một khoản tiền lớn, không biết làm gì cho hết thì đem mua ô tô, xe máy, xây nhà. Song “miệng ăn núi lở”, họ đâu biết rằng đang bán đi chính những công cụ sản xuất duy nhất của mình mà chẳng mường tượng được sẽ “tái đầu tư” vào đâu. Nghề nghiệp vẫn chỉ là trồng ngô trồng lúa. Không có ngô có lúa lại phải bán xe đi lấy tiền ăn. Thế mới có chuyện nhiều hộ thuộc diện nghèo, mua được xe máy thì ngay lập tức được loại khỏi danh sách hộ nghèo. Nhưng chính họ cũng là những người tiềm tàng khả năng tái nghèo nhất. Hồi đầu có mấy người đến hỏi mua đất nhưng vợ tôi không cho bán. Kể cũng may. Bán hết đất rồi thì biết lấy gì mà ăn chứ”, anh Bình nói.
Ông Hoàng Phương, Chủ tịch UBND xã Yên Trung cho biết: Trước khi sát nhập vào Hà Nội, cả xã Yên Trung có 130 hộ nghèo, chiếm 16% toàn xã. Con số ấy giờ chỉ còn 50 hộ, tương đương 5,7%. Số hộ nghèo phân bố rải rác trong 7 thôn, nhưng tập trung nhất vẫn là hai thôn Hương và thôn Hội. “Diện tích tự nhiên của xã là 152,76 ha, trong đó đất nông nghiệp chỉ có 250 ha. Nguồn thu chính của người dân Yên Trung từ trước đến nay vẫn là từ nông nghiệp. Mấy năm gần đây chúng tôi phát triển thêm việc trồng rừng, đã có khoảng 600 ha đất rừng kinh doanh rồi. Đó cũng là hướng đi lâu dài”, ông Phương nói.
Tuy nhiên, ông Hoàng Phương cũng thừa nhận một điều: “Định hướng phát triển kinh tế địa phương vẫn còn khó khăn. Trong đó, vấn đề lớn nhất vẫn là việc đào tạo nghề nghiệp cho người dân. Có đào tạo được nghề, người dân mới chuyển đổi được mô hình, phương thức làm ăn, không còn quá phụ thuộc vào nông nghiệp nữa. “Hạn chế lớn nhất của địa phương là trình độ, mặt bằng dân trí chưa đồng đều. Trước khi sát nhập gần như 100% cư dân của xã làm nông nghiệp. Con số đó bây giờ vẫn chưa thay đổi là mấy. Địa phương vẫn đang chờ thành phố tiếp tục đầu tư, mở các khóa, các lớp dạy nghề cho người dân chứ như bây giờ thì ít quá”, ông Phương nói.
|
Trong khi đó, thống kê của UBND xã Yên Bình kế bên xã Yên Trung cũng cho thấy, cả xã có 10 thôn (có 8 thôn được công nhận làng văn hóa) với 6.500 dân tương đương 1.500 hộ. Cả xã không có nhà máy, không có xí nghiệp nào. Chỉ có 12% người dân làm trong lĩnh vực thương mại, tiểu thủ công nghiệp. Có đến 82% dân cư sản xuất nông nghiệp trên 2.000 ha đất nông nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất ở địa phương này là thiếu nước sinh hoạt và nước tưới tiêu thường. Suốt bao năm qua, người dân nơi đây lúc nào cũng phải đánh vật với việc đào giếng khơi tìm nước. Có nhà đào đến mấy cái giếng nhưng vẫn không đủ nước dùng vì mỗi khi mùa khô đến, tất cả đều “rủ nhau” phơi đáy. Thế là cái cảnh chậu thau rồng rắn đi xin nhau từng xô nước. Ruộng nương thì nứt nẻ vì không có nước dẫn vào. Nhắc đến vấn đề này, ông Đặng Hồng Ngọc, phó Chủ tịch UBND xã Yên Bình né tránh Thiếu nước là vì toàn bộ diện tích đất nông của xã đã nằm trong quy hoạch của một dự án từ năm 2008. Do đó chính quyền địa phương chủ trương... không đầu tư mương máng dẫn nước cho tưới tiêu để... tránh lãng phí ?!.
|
Hồ Giám