ĐS&TD - Như đã thành lệ, cứ vào độ cuối thu, khi những cơn gió heo may từ sông Hồng tràn qua bờ đê, vội vã leo lên vòm cây làm rơi những chiếc lá vàng trên bờ hồ Hoàn Kiếm, tôi lại nao nao một nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ và mong được sớm về với mẹ. Thế nhưng 6 năm nay, tôi không còn mẹ để được về với mẹ nữa. Mẹ tôi đã về cùng tiên tổ ở tuổi 92 vào đúng thời điểm mà hàng năm khi còn sống, mẹ thường bắt tay gấp rút chuẩn bị cho bữa cơm tất niên.

Bữa cơm thiêng liêng kỳ diệu
Đó là bữa cơm chia tay năm cũ, chào đón năm mới và chờ đợi những đứa con đi làm ăn xa, lưu lạc các phương trời trở về căn nhà của mẹ, nơi có hương hồn ông bà, Tiên tổ. Bữa cơm ấm áp, thiêng liêng cuối cùng của năm này từ xa xưa rất được người làng tôi coi trọng nên mọi sự sơ suất đều là thất thố lớn.
Những cô gái làng khác về làng tôi làm dâu một trong những điều đầu tiên được các bà mẹ chồng truyền bảo là phương cách sắp bữa cơm tất niên cho ngày ba mươi tết.
Thuở còn khoẻ mạnh, vào đầu vụ gặt tháng mười, mẹ tôi đã chọn một đám lúa chín sớm nhất, trĩu hạt nhất gặt về phơi thật se dưới cái nắng hanh đầu mùa rồi cho vào chum sành, ủ bên trên bằng một lớp dày lá chuối hột khô chờ đúng đến sáng ba mươi tết mới được đem xay giã.
Mẹ tôi bảo làm thế thóc hãy còn "tươi" nên đượm mùi thơm lúa mới. Để nấu nồi cơm này, mẹ còn chuẩn bị kỹ cả cái đun. Đó phải là rơm của những ruộng lúa nếp không rạp đổ, phơi thật khô dưới cái nắng hanh hao vàng như mật của ngày cuối thu.
Từ nhỏ, tôi rất thích được ngắm mẹ khi người ngồi thổi cơm Tết. Trong cái rét căm căm của châu thổ sông Hồng, khuôn mặt mẹ thường ngày tím tái vì thiếu đói và bươn chải nuôi con giờ hồng rực lên như thời con gái.
Bố tôi bảo ngày xưa mẹ đẹp có tiếng ở làng và ông rất yêu bà. Hình ảnh bố tôi, một cụ già 90 tuổi bế đầu mẹ tôi vừa bóp đầu vừa kể chuyện cho mẹ tôi nghe như một khắc họa thiêng liêng của tình yêu.
Mẹ lấy bố khi mới 11 tuổi (bố tôi lên 9) và đến khi trút hơi thở cuối cùng, mẹ đã có 81 năm làm con dâu ông bà tôi, làm vợ bố tôi và điều đó cũng có nghĩa là mẹ đã 81 lần làm bữa cơm tất niên chào năm mới.
Mẹ tôi chọn đồ cúng rất kỹ, nhất là con gà để cúng đêm trừ tịch. Đó phải là chú gà trống chớm tuổi trưởng thành. Nó không còn là gà nhiếp nhưng cũng chưa đến tuổi te tái đuổi theo ả gà mái tơ nhà hàng xóm.
Trước khi đặt lưỡi dao sáng loáng vào cổ con gà để cắt tiết, bao giờ mẹ tôi cũng nói câu thần chú quen thuộc: "Tao hóa kiếp cho mày để mày thành kiếp khác". Cho đến tận những năm bốn mươi tuổi, tôi còn rất sợ câu "thần chú" này nhưng khi đã bước sang tuổi ngũ tuần, tôi mới hiểu được ẩn ý sâu thẳm của câu "thần chú thiêng liêng" đó.
Bữa cơm tươm tất được đưa lên khấn vái xong, chờ cho những nén hương tắt hẳn để thay một chầu hương mới, mẹ tôi trịnh trọng bê mâm xuống, mời bố tôi khi đó đang mài mực để lát nữa khai bút đầu xuân rồi đánh thức những đứa con còn ngủ nướng dậy và cả nhà quây quần bên mâm cơm.
Trong đêm giao hoà của giời đất, cái khí trời se se và mờ mờ hơi sương xứ Bắc như bức màn níu giữ mùi hương trầm bảng lảng không muốn cho bay đi.
Những món ăn do bàn tay mẹ nấu từ lúa gạo, rau trái do tay mẹ trồng, lớn lên từ giọt mồ hôi tần tảo của mẹ tôi từ nhiều tháng trước càng khiến bữa cơm thiêng liêng một cách kỳ diệu.
Trong bữa cơm ấy, bao giờ mẹ tôi cũng dặn dò chúng tôi những điều phải kiêng kị trong ba ngày tết. Chỉ những người làm ăn, học hành phát đạt mới được mẹ cho xông nhà mình và xông các nhà trong họ hàng nội ngoại. Anh trai tôi là người đầu tiên học đại học của làng nên thường được mẹ cử xông nhà sáng mồng một Tết. Mẹ còn dặn trong ba ngày tết không được quét nhà dù bẩn cũng phải chịu vì “của cào vào không có, lại có của đổ đi".
Không chỉ thế, bà còn cấm con cháu quét nhà ngày mồng một dù có bừa bộn đến đâu vì dễ sinh ra nhiều kiến. Cho đến bây giờ, tôi cũng không biết lũ kiến vàng, kiến đen, kiến đỏ thì có liên quan gì đến việc quét nhà nhưng đã thành nếp, nhà tôi không quét vào mồng một Tết.
Mẹ tôi cấm không được cắt móng chân, móng tay vì làm như vậy là "sái" cả năm. Cả việc chải đầu cũng không được làm vào sáng mồng một vì sợ... rắc rối.
Đặc biệt là mẹ tôi nghiêm cấm việc vay mượn, xin xỏ, nhờ vả người khác trong ba ngày tết.
Sáng mồng một Tết, Người thường đưa chúng tôi ra đình thắp hương lễ tạ Thành Hoàng làng cầu cho một năm mới mưa thuận, gió hòa làm ăn suôn sẻ. Thành Hoàng làng tôi là Công chúa Trần Thị Quý Minh nên người làng tôi không bao giờ nói "quý" và "minh" mà thường nói chệch thành "quế" và "miêng".
Khi có khách đến chơi nhà, người làng tôi thường bảo: “Bác đến thăm nhà em thế này là quế hóa lắm...”. Ngay cả chữ "thanh minh" cũng đọc chệch thành "thanh miêng".
Thành Hoàng làng tôi và điệu múa “độc nhất, vô nhị”
Có lẽ cũng nên kể ngoài lề về Đức bà Trần Thị Quý Minh, Thành Hoàng làng tôi, tác giả của điệu múa cổ độc nhất vô nhị có tên là “Giáo cờ - giáo quạt”. Bà là công chúa cả của Đức vua Trần Duệ Tông (1337 -1377). Hơn 600 năm trước, do trái lệnh vua cha, không chịu kết hôn với người trong dòng tộc nên Công chúa Trần Thị Quý Minh cùng với hai người em gái bị đày về rẻo đất cửa bể này lập nên ba làng: Thượng Liệt, Trung Liệt và Hạ Liệt.
Thuở ấy, làng tôi là bãi đất bồi, hoang vu và đầy năn lác, sú vẹt.
Vào những ngày đầu mở đất, để giúp người dân quên đi nỗi gian lao, cực nhọc và cũng để vơi đi nỗi nhớ kinh thành của mình, bà đã dày công soạn ra điệu múa "Giáo cờ -Giáo quạt" gồm 36 cấp với phần lời hát ẩn chứa niềm thương nhớ kinh kỳ và niềm tôn kính vua cha.
Khi đánh giá về điệu múa này, nhiều nhà chuyên môn cho rằng, đây là điệu múa độc đáo vì đậm bản sắc, nó đòi hỏi rất cao ở tài năng bẩm sinh cũng như sự khổ luyện của người thể hiện.
Đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, nghệ sĩ Easola Thủy đã cùng với các vũ công làng tôi và làng An Khê (Quỳnh Phụ, Thái Bình) dựng vở vũ kịch nổi tiếng "Hạn hán và cơn mưa" đưa những vũ công làng tôi đi 15 quốc gia trên thế giới.
Vũ hội xuân mới ở làng tôi được tổ chức từ ngày 10 đến hết 12 tháng Giêng hằng năm. Đến năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, lễ hội ngừng hoạt động và đến năm 1987 thì được phục hồi. Nhờ quần thể di tích Đình - Chùa - Lăng và đặc biệt là điệu múa Giáo cờ - Giáo quạt độc đáo mà đình làng tôi được cấp bằng công nhận Di tích Văn hóa ngay đợt đầu tiên.
Có lẽ vì niềm tôn kính vị Thành Hoàng tài năng và can trường nên năm nào cũng thế, trước khi ra lễ đình bao giờ mẹ cũng dặn chúng tôi kiêng kỵ rất cẩn thận.
Cách đây 6 năm, trước khi đổ bệnh nặng, mẹ đã kịp dặn chú thím tôi chuẩn bị một số nguyên liệu cho bữa cơm tất niên. Gà, gạo chú thím tôi đã chuẩn bị sẵn. Cả đám rơm đun cũng được chú thím đánh đống để riêng. Và khi biết mình khó qua khỏi, người đã gọi chị dâu tôi vào tận giường căn dặn cách thức làm bữa cơm cúng tất niên.
Tôi năm nay bước sang tuổi năm bảy. Chiến tranh, những năm tháng lưu lạc xứ người, rồi lối sống thị thành vừa đầy đủ, vừa mê hoặc nhưng cũng hết sức ráo hoảnh đã lôi tôi đi như một cơn lốc. Bữa cơm tất niên trong mái nhà ấm áp của mẹ đã gột rửa cho tâm hồn tôi mỗi độ xuân sang.
Bùi Hoàng Tám