Mạng lưới đường sắt hiện nay có 1.555 đường ngang các loại và 4.268 đường ngang dân sinh vượt qua đường sắt, trong đó có rất nhiều đường ngang dân sinh trái phép, mất an toàn giao thông (ATGT). Để hạn chế dần nguy cơ và tai nạn giao thông (TNGT) đường sắt, Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) đang nghiên cứu giao lại cho các địa phương quản lý và vận hành các đường ngang giao với đường sắt hiện có.

Đường ngang sắp tới sẽ có cơ chế để giao lại cho các địa phương quản lý. Ảnh: T.A
Phần lớn TNGT đường sắt liên quan tới đường ngang
Theo Tiểu ban An ninh trật tự đường sắt tỉnh Hải Dương, địa bàn tỉnh hiện còn 264 đường ngang qua đường sắt, trong đó có 216 đường ngang dân sinh tự mở trái phép. Trên các tuyến đường sắt qua địa bàn tỉnh đã xảy ra nhiều vụ va chạm giữa tàu hỏa với người và phương tiện giao thông đường bộ, làm 1 người chết và 4 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do ý thức chấp hành luật giao thông của người dân còn kém, các đường ngang qua đường sắt chưa có gác chắn hoặc chưa được lắp đặt cảnh báo tự động; nhiều đường ngang bị che khuất tầm nhìn...
Trong khi đó, ngay trung tâm Thủ đô Hà Nội, chỉ vài km từ Ga Hà Nội đến Ngọc Hồi, ước tính phải có đến hàng chục đường ngang dân sinh tự phát không có rào chắn do người dân tự động mở và sử dụng làm đường đi lại qua đường sắt. Thậm chí, người dân còn xây dựng bục bê tông vượt qua cả ta luy, dải phân cách để dễ dàng đi bộ vượt đường sắt, tình trạng tự do đi lại, tận dụng diện tích ngay trên đường ray để sinh hoạt, gia công đồ gỗ, tập kết phế liệu... ở đoạn đường Lê Duẩn, Giải Phóng xảy ra phổ biến, thường trực các nguy cơ về TNGT đường sắt.
Theo thống kê của Ủy ban ATGT Quốc gia, 5 tháng đầu năm, khi TNGT đường bộ giảm cả số vụ và số người chết so với cùng kỳ năm 2013 thì TNGT đường sắt lại xảy ra 73 vụ, tăng 7 vụ (10,61%), tăng 7 người chết (11,11%) so với cùng kỳ năm 2013.
Phân tích các vụ TNGT đường sắt trong những năm gần đây cho thấy có 97,5% số vụ TNGT đường sắt là do các nguyên nhân khách quan, tập trung chủ yếu tại các đường ngang (72,9%). Nếu coi số vụ TNGT đường sắt xảy ra tại các đường ngang là 100% thì tai nạn xảy ra tại các đường ngang có người gác là 1,9%, đường ngang phòng vệ bằng thiết bị tín hiệu cảnh báo tự động là 8,7%, đường ngang phòng vệ bằng biển báo là 3,2%, đường ngang dân sinh bất hợp pháp là 80,9%. Nhiều bất cập trong giao cắt giữa đường sắt và đường bộ, đặc biệt là đường ngang dân sinh bất hợp pháp chính là nguyên nhân chính dẫn tới TNGT đường sắt.
Quyết liệt xã hội hóa an toàn đường sắt
Theo báo cáo của Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, hiện tại đường sắt Việt Nam có 6 tuyến chính và các tuyến nhánh với tổng chiều dài 3.143 km, trong đó có 2.682 km đường chính tuyến, đi qua 32 tỉnh, thành phố. Trên mạng lưới đường sắt đó có 1.555 đường ngang các loại, trong đó 544 đường ngang có biển báo, 304 đường ngang cảnh báo tự động, 654 đường ngang có người gác (trong đó có 525 đường ngang công cộng, 111 đường ngang nội bộ, 18 đường ngang) và 4.268 đường dân sinh vượt qua đường sắt.
Hiện nay, 525 đường ngang công cộng có người gác do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức phòng vệ với nguồn kinh phí quản lý, bảo trì và tổ chức phòng vệ đường ngang từ nguồn vốn sự nghiệp. 111 đường ngang nội bộ và 18 đường ngang chuyên dùng có người gác, hiện do các công ty kết cấu hạ tầng đường sắt thực hiện quản lý, bảo trì và tổ chức gác chắn theo hợp đồng với đơn vị chủ quản đường ngang.
Theo Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, trong giai đoạn trước mắt cần áp dụng thí điểm cho các đường ngang nội bộ, chuyên dùng và các đường ngang mới thành lập, cải tạo nâng cấp thành có người gác. Sau khi thực hiện thí điểm, tổng kết và hoàn chỉnh các văn bản để áp dụng cho đường ngang có người gác còn lại.
Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông yêu cầu, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam cần quyết liệt trong thực hiện quản lý đường ngang. Đây là một mục tiêu nằm trong chủ trương xã hội hóa công tác an toàn đường sắt, đồng thời tăng vai trò, trách nhiệm của địa phương trong công tác ATGT đường sắt.
Thời gian tới cần rà soát và phân loại tất cả đường ngang để có thể giao dần cho địa phương quản lý, đồng thời nghiên cứu cơ chế đặt hàng hoặc khoán cho địa phương vận hành, quản lý các đường ngang với điều kiện có đủ trang thiết bị. Còn việc duy tu, bảo trì hệ thống phải do ngành Đường sắt Việt Nam thực hiện. Đồng thời, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam cũng cần xây dựng cơ chế giám sát quản lý bảo đảm ATGT, rà soát các quy định liên quan đến điều kiện an toàn trong phòng vệ đường ngang, chứng chỉ nghề của người thực hiện tổ chức phòng vệ đường ngang để xem xét, sửa đổi cho phù hợp.
Tràng An
theo Thanh tra