Không may mắn như những đứa trẻ khác, sinh ra, cậu bé Nay Djruêng (dân tộc Jrai, buôn Ji A, xã Krông Năng, huyện Krông Pa, Gia Lai) đã bị dị tật vì di chứng chất độc da cam.
Không may mắn như những đứa trẻ khác, sinh ra, cậu bé Nay Djruêng (dân tộc Jrai, buôn Ji A, xã Krông Năng, huyện Krông Pa, Gia Lai) đã bị dị tật vì di chứng chất độc da cam.
Bị làng đem đi chôn sống, người cha của Nay Djruêng đã phá bỏ luật tục lao xuống hố cứu đứa con trai đỏ hỏn đưa về chịu phạt và nuôi dưỡng. 19 năm trôi qua, cậu bé ấy đã vượt lên số phận, lập nên một kỳ tích giữa buôn làng để trở thành một cậu sinh viên cao đẳng trước sự cảm phục của thầy cô, bạn bè và xã hội.
Vượt qua luật tục
Nằm ở phía Đông nam tỉnh Gia Lai, xã Krông Năng, huyện Krông Pa được đánh giá là một trong những xã nghèo nhất, nhì của tỉnh với phần lớn là người đồng bào dân tộc Jrai sinh sống. Cũng từ cái nghèo khó ấy mà nơi đây vẫn mang nặng nhiều hủ tục lạc hậu. Trong số đó, đáng sợ nhất là luật tục “Nar tui mih” - “con theo mẹ” một hủ tục rất đáng sợ. Nhớ lại ngày tháng đáng sợ ấy, ông Ksor Dyoang, cha của cậu bé tật nguyền Nay Djruêng kể lại: Theo tục lệ của người đồng bào Jrai, con chim con sống phải có chim mẹ, con chim non yếu thì phải về với Atâu (tổ tiên, ông bà). Nếu không, Yàng (trời) sẽ trừng phạt. Ở làng tôi, tục lệ “Nar tui mih” là một tục lệ đã có từ bao đời nay và thực hiện rất nghiêm khắc, nên gia đình tôi cũng không thể chống lại. Đứa con trai thứ 6 của tôi sinh ra bị di chứng chất độc da cam đã bị làng kiên quyết “theo luật” đưa đi chôn sống. Đau xót lắm nhưng cũng đành nhắm mắt tuân theo luật làng. Còn đứa con thứ 7 là Nay H’Đốt và đứa con thứ 8 là Nay Djruêng mặc dù sinh ra cũng bị di chứng nhưng vì thương con quá nên tôi đã kiên quyết chống lại luật làng mà cứu con mang về nuôi dưỡng và chấp nhận chịu phạt, cũng may mà cháu có chí, biết vượt lên số phận chứ không chẳng biết ăn nói sao với dân làng nữa.

Nay Djruêng tại ký túc xá. Ảnh: Tiêu Cương
Nói đến đây, trong dòng nước mắt nghẹn ngào, xúc động, ông Ksor Dyoang chậm rãi thuật lại hoàn cảnh của vợ chồng ông cho chúng tôi: Năm 1972, ông và vợ là bà Nay H’Đril đều là du kích ở căn cứ Ea Réh (huyện Krông Pa). Đây là một trong những khu căn cứ bị đế quốc Mỹ dùng máy bay rải chất độc da cam, trong đó có dòng suối Ia H’Đreh. Nó cũng chính là con suối mà hàng ngày vợ chồng ông thường men theo đi làm nhiệm vụ và là nơi cung cấp nước uống, nước sinh hoạt hàng ngày của các chiến sỹ du kích.
Kết thúc chiến tranh, ông được phân công về làm cán bộ xã Krông Năng, cho đến năm 1990 thì ông xin nghỉ để ở nhà làm rẫy cùng vợ con.
Niềm vui tiếp tục đến với gia đình cựu du kích này khi vợ ông có thai đứa con thứ 6. Nhưng than ôi! Sau những tháng ngày hy vọng và chờ đợi, vợ ông đã sinh hạ một đứa trẻ giống như “chàng sọ dừa”, nghĩa là chỉ có duy nhất một cái đầu đỏ hỏn. Nỗi sợ hãi xâm chiếm toàn thân hai vợ chồng cựu du kích bởi họ quá biết về sự tàn khốc của luật tục. Điều gì đến ắt phải đến, chẳng bao lâu sau, cả làng hay tin vợ chồng Ksor Dyoang đã sinh ra một quái thai, người có quyền lực tối cao là già làng đến bảo phải đưa đứa bé chôn sống xuống đất để nó về với Atâu. Đau đớn, nhưng tục lệ là vậy, hai vợ chồng ông đành nuốt nước mắt tuân theo.
Gần hai mùa rẫy sau, vợ chồng Ksor Dyoang lại sinh hạ thêm đứa con thứ 7. Đứa trẻ ra đời vẫn bú sữa mẹ, nhưng đôi mắt lại bị lồi hẳn ra ngoài, chân tay có màng như chân vịt. Cũng như lần trước, cả buôn Ji A kéo đến buộc hai vợ chồng tội nghiệp phải mang đứa trẻ chôn sống. Quá thương con, Ksor Dyoang đã dũng cảm chống lại tục lệ của làng: Ksor Dyoang đã đau một lần rồi, bây giờ Yàng phạt cũng mặc. Atâu trách cũng chịu. Tôi không thể mất con lần nữa, gia đình Ksor Dyoang thà bị dân làng phạt heo, phạt bò mấy cũng được… chứ không thể chôn con lần nữa. Vậy là Ksor Dyoang đã giữ lại được mạng sống cho con và đặt tên Nay H’Đốt.

Nay Djruêng đang học tại trường Cao đẳng CNTT tại Đà Nẵng. Ảnh Tiêu Cương
Thế rồi, mấy mùa rẫy sau, bà Nay H’Đril lại sinh đứa con thứ tám. Một lần nữa, nỗi bất hạnh lại đến với gia đình, đứa trẻ sinh ra không có bàn tay, cũng chẳng có bàn chân, cả thân người cứ co quắp lại. Và, bóng ma lệ tục lại ám ảnh người du kích Ksor Dyoang, làng lại bắt chôn đứa trẻ để nó về với Atâu, tránh tai họa cho dân làng. Từng nuốt nỗi đau khi tận mắt chứng kiến việc dân làng chôn con mình, nhưng ông chợt nghĩ: Nếu để nó sống thì cũng tội quá, thế rồi người cha đau khổ đành buông xuôi theo tục lệ. Trong thời khắc đêm tối, dân làng kéo đến, trên tay lăm lăm cầm những cây đuốc và những dụng cụ để chuẩn bị cho việc đưa đứa bé về với Atâu. Khi cái hố đã hoàn thành, trong ánh sáng lập lòe của ngọn đuốc, hình ảnh đứa con bé bỏng, nhỏ nhắn đang oằn mình lên như cố hết sức để vùng vẫy, như đang cầu cứu khi bị đặt xuống lòng đất lạnh lẽo. Rồi chiếc khăn thổ cẩm đã phủ kín toàn cơ thể thì thằng bé khóc thét lên dữ dội, tiếng kêu khóc mỗi lúc mỗi vang to nghe như xé lòng người. “Không có gì đau đớn bằng khi phải đứng nhìn đứa con vô tội của mình đang cất tiếng khóc như van lơn ngày càng thống thiết, tiếng khóc như đâm thấu vào tâm can của tôi. Chính tiếng khóc đó đã biến tình thương của người cha thành sức mạnh, lấn át hết mọi nỗi lo sợ tầm thường. Bỏ qua cái luật tục khắt khe của dân làng, tôi không còn suy nghĩ được gì hơn đã nhảy xuống hố, bế lấy đứa con bé bỏng chạy nhanh về nhà. Lấy vỏ nứa cắt rốn và tắm rửa sạch sẽ, rồi mang vào chỗ người vợ đang héo hon vì nỗi đau mất con. Đứa bé khát sữa liền bú no căng, không còn khóc. Tôi mừng rỡ đặt tên con là Nay Djruêng, rồi chuẩn bị heo, bò… để nộp phạt cho dân làng”, ông Ksor Dyoang kể lại.
Hành trình tìm cái chữ
Vốn sinh ra đã là đứa trẻ chịu nhiều bất hạnh khi cơ thể khiếm khuyết, suốt thời thơ ấu, Nay Djruêng chỉ quanh quẩn trong ngôi nhà sàn. Khi cha mẹ lên rẫy, một mình Nay Djruêng ở nhà vừa chăm sóc bản thân, vừa trông nom heo, gà. Bạn bè cũng chẳng có bởi không có đứa trẻ nào thích chơi với một đứa bé “quái dị”. Hàng ngày, nhìn thấy những đứa trẻ cùng trang lứa xung quanh được bố mẹ cho đi học, Nay Djruêng khát khao lắm, em bỗng nghĩ tại sao mình không đi học nhỉ? Thế rồi một hôm, cậu bé lăn mình đến nơi cha đang nằm nghỉ nói: “Ama (cha) ơi, con muốn đi học!”. Trước lời đề nghị bất ngờ của đứa con trai tội nghiệp, Ksor Dyoang lặng người ngạc nhiên. Ông nghĩ rằng, đến đứa trẻ bình thường trong làng nó còn không thích đến trường huống chi là như con mình.
Suy nghĩ một hồi, ông xoa đầu con đáp: Được rồi, Ama sẽ đến trường xin cho con đi học. Nhưng con có theo được cái chữ không? Để biết được cái chữ khó lắm đấy, bao nhiêu đứa trẻ làng mình có chịu đi học đâu? Nghe cha nói vậy, Nay Djruêng đã ngẩng mặt lên nhìn cha thật lâu và buông một câu chắc nịch: “Ama đừng lo, con sẽ cố gắng đi học, con học giỏi được cái chữ cho Ama xem”. Từ lúc nghe đứa con tật nguyền nói chuyện, Ksor Dyoang trong tâm trạng vừa lo âu lại vừa khấp khởi vui mừng vì nghĩ rằng Nay Djruêng tuy khiếm khuyết tay chân, nhưng cái đầu thì lại thông minh, biết nghĩ. Tuy nhiên, ông vẫn hết sức lo lắng vì thằng bé không có bàn tay, cũng chẳng có bàn chân thì học bằng cách nào? Bao nhiêu điều thắc mắc cứ quanh quẩn mãi trong đầu, nhưng vì tình thương vô bờ bến đối với đứa con trai tật nguyền, Ksor Dyoang đã chuẩn bị sách vở và cõng cậu bé đến Trường Tiểu học Krông Năng gần nhà nhờ các thầy cô giáo dạy cho con mình cái chữ.
Thế là mơ ước “nhỏ nhoi” của Nay Djruêng đã trở thành hiện thực, em háo hức chuẩn bị cho buổi đi học đầu tiên. Buổi sáng hôm ấy, khi được cha cõng đến trường trong tâm trạng vô cùng vui sướng và hồ hởi. Tại trường, cậu học trò Nay Djruêng trở thành tâm điểm chú ý của mọi người như một “vật thể lạ”. Nhưng rồi, với tình yêu cái chữ vô bờ bến, cậu học trò Nay Djruêng đã dần làm quen cùng bạn bè trong lớp học và tập thích nghi rồi vượt qua dần những khó khăn ban đầu. Kể từ đó, cuộc sống của Nay Djruêng đã thay đổi hẳn, không còn những ngày buồn tẻ chỉ biết lủi thủi ở góc xó nhà sàn, em chuyên tâm vào việc rèn luyện chữ viết và đọc sách.
Không có bàn tay, Nay Djruêng kẹp bút vào giữa hai cùi tay chăm chỉ tập viết. Không có bàn chân để chạy nhảy, vui đùa, đi lại nhưng em vẫn tự khắc phục để đến trường, những ngày không có cha đưa đón Nay Djruêng đã tự mình trườn trên con đường đất đồi dốc để đến lớp. Sau này, khi được tặng đôi chân giả, việc đi học của Nay Djruêng phần nào đỡ cực hơn. Với ý chí và nghị lực phi thường cộng thêm niềm đam mê con chữ đã khiến em vượt qua tất cả để đến trường, tin tưởng và yêu cuộc sống xiết bao. Với những đứa trẻ khác trong buôn làng, có thể đi học là không quan trọng lắm nhưng với Nay Djruêng thì lại là nơi khám phá ra một chân trời mới, em háo hức không muốn nghỉ ngơi ngày nào.
Cứ vậy, năm tháng trôi qua, cậu bé Nay Djruêng đã trở thành một niềm tự hào không chỉ với gia đình mà còn là niềm tự hào của các thầy cô giáo, nhà trường và xã hội. Với học lực luôn ở mức khá, năm nào Nay Djruêng cũng được nhà trường tặng giấy khen. Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học vừa qua, Nay Djruêng đạt kết quả tổng cộng 30 điểm. Với kết quả thi tốt nghiệp trên, Nay Djruêng đã xin phép cha mẹ nộp đơn đăng ký dự thi trường Cao đẳng công nghệ thông tin thuộc Đại học Đà Nẵng và đã đậu vào trường với kết quả khá cao. Hiện nay, Djruêng là một tân sinh viên luôn được các bạn bè, thầy cô trong trường quý mến và được coi là một trong những tấm gương điển hình vượt khó trong học tập.
Xuân Hoàng - Tiêu Cương
theo Công Lý