Dantin - “Phải nghiêm khắc với thuốc bảo vệ thực vật và các cơ sở chế biến chè không đạt chất lượng” là chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (NTPTNT) Bùi Bá Bổng tại hội nghị Sản xuất chè an toàn tổ chức ngày 14/12/2012 tại Phú Thọ.
Dantin - “Phải nghiêm khắc với thuốc bảo vệ thực vật và các cơ sở chế biến chè không đạt chất lượng” là chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (NTPTNT) Bùi Bá Bổng tại hội nghị Sản xuất chè an toàn tổ chức ngày 14/12/2012 tại Phú Thọ.
Theo thống kê của Hiệp hội chè Việt Nam, 10 tháng đầu năm 2012, Việt Nam xuất khẩu được 142.000 tấn chè với tổng giá trị 216 triệu USD. Đây là sản lượng xuất khẩu lớn nhất từ trước đến nay của ngành chè nước ta. Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, việc sản xuất chè sạch, chè an toàn, chè chất lượng cao đang trở thành vấn đề cấp thiết, sống còn đối với ngành chè.
Hiện nay, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt tại thị trường 69 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, chè đen chiếm 75%, chè xanh chiếm 25%. Báo cáo về tình hình sản xuất, xuất khẩu chè của Hiệp hội chè Việt Nam cho thấy, trong tốp 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất của nước ta (Pakistan, Đài Loan, Indonesia, Nga, Trung Quốc, Afganistan, Mỹ, Iran, Ba Lan và Malaysia) thì hầu hết thuộc nhóm thị trường “dễ tính” và giá trị thấp. Mức giá nhập khẩu cao nhất của các nước trong nhóm này cũng chỉ khoảng 2USD/kg. Tính rộng hơn trong tốp 20 nước nhập khẩu chè thì cũng chỉ có Đức là nước thuộc khối EU. Việc tiếp cận thị trường giá cao, đặc biệt là thị trường EU đang ngày càng trở nên cấp thiết đối với ngành chè Việt Nam.
Hiệp Hội chè Việt Nam dẫn chứng bảng số liệu của một số công ty trong Hiệp hội gửi mẫu đi kiểm tra tại Đức. Kết quả cho thấy, phần lớn các mẫu đều không đạt tiêu chuẩn. Năm 2009 có 44/ 58 mẫu không đạt; năm 2010 có 46/74 mẫu không đạt; năm 2011 là 48/77 mẫu không đạt; còn 10 tháng của năm 2012 cũng có 49/93 mẫu không đạt tiêu chuẩn. Trong khi đó, năm 2012, trong 30 mẫu sản phẩm chè tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh được Cục Bảo vệthực vật đem đi phân tích hoạt chất thuốc BVTV cũng có tới 27 mẫu phát hiện có dư lượng từ 1-4 loạt hoạt chất thuốc BVTV. Cục BVTV chỉ ra 3 nguyên nhân dẫn đến tình trạng dư lượng thuốc BTVT vẫn tồn tại trong sản phẩm chè Việt Nam: Sử dụng thuốc độc hại ngoài danh mục không được phép sử dụng trên cây chè; nồng độ phun quá cao, phun quá nhiều lần; không đảm bảo thời gian cách ly (từ lúc phun tới lúc thu hoạch).
Về năng lực, chất lượng các cơ sở chế biến chè hiện nay, Cục Chế biến cho biết, trong 167 cơ sở chế biến chè được kiểm tra thì chỉ có 25 cơ sở (chiếm 15%) xếp loại A, 83 cơ sở (49,7%) xếp loại B, số cơ sở xếp loại C và không thể xếp loại lên tới 59 cơ sở (35,3%). Cục Chế biến đánh giá, hầu hết các cơ sở hiện nay không có quy hoạch vùng nguyên liệu nên không quản lý được quá trình chăm sóc, sử dụng thuốc BVTV, thu hái, vận chuyển nguyên liệu. Chính vì thế, nguyên liệu chủ yếu thu mua của tư nhân thu gom và của các hộ gia đình nên không kiểm soát được nguồn gốc.
Theo Cục Chế biến, vấn đề nhức nhối nhất của ngành chế biến chè nước ta hiện nay là không chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu không đủ để đáp ứng công suất, điều này dẫn đến tình trạng các cơ sở tranh giành nhau, thu mua nguyên liệu tràn lan, thiếu chọn lọc khiến sản phẩm xuất ra không đảm bảo chất lượng.

Thứ trưởng Bộ NN & DTNT Bùi Bá Bổng
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ NTPTNT Bùi Bá Bổng khẳng định: nâng cao chất lượng sản phẩm chè xuất khẩu không chỉ là vấn đề cấp thiết của ngành chè mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với cả nền Nông nghiệp nước ta hiện nay. Thứ trưởng Bùi Bá Bổng yêu cầu tất cả các ban, ngành trong ngành Nông nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất chè phải đồng loạt vào cuộc, trong đó Cục Bảo vệthực vật (BVTV) và Cục Chế biến phải là những đơn vị tiên phong.
Thứ trưởng khẳng định: “Bộ đã giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị thực hiện. Riêng đối với Cục Bảo vệthực vật và Cục Chế biến, Bộ yêu cầu phải khẩn trương, vào cuộc. Phải nghiêm khắc với thuốc Bảo vệ thực vật và các cơ sở chế biến chè không đạt chất lượng”.
Thứ trưởng Bùi Bá Bổng chỉ ra 3 vấn đề để Cục BVTV và Cục Chế biến phải thực hiện ngay: Một là, nâng cao chất lượng các cơ sở chế biến chè. Đối với những cơ sở không đạt tiêu chuẩn phải kiên quyết đóng cửa, không cho hoạt động. Hai là, đóng cửa các cơ sở bán thuốc BVTV không phép. Ba là, xây dựng mô hình liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, chế biến chè. Đã đến lúc những cơ quan, ban, ngành phải thẳng thắn chỉ ra và thừa nhận những hạn chế, nhược điểm của mình, đặc biệt là trong công tác quản lý chứ không thể đổ lỗi cho người nông dân mãi được. “Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận có tồn tại những yếu kém trong công tác quản lý. Ví như việc quản lý các loại thuốc BVTV trôi nổi trên thị trường. Chúng ta phải thẳng thắn nhận trách nhiệm về mình, nghiêm khắc khắc phục những tồn tại đó”, Thứ trưởng Bùi Bá Bổng chỉ đạo.
| TS Đỗ Văn Ngọc, Viện Nông Lâm báo cáo về quy trình kỹ thuật sản xuất chè nguyên liệu an toàn (lấy từ kết quả Dự án KC06.DA06/06-10, thuộc Chương trình KC06-2007-2009 do Viện Nông lâm triển khai) nhằm đảm bảo phát triển chè bền vững tại nước ta. Theo đó, quy trình được áp dụng thí điểm tại 3 vùng nguyên liệu của dự án là Nghệ An, Phú Hộ (Phú Thọ) và xã Thái Bình (Lạng Sơn) đối với 3 giống chèLDP1, LDP2 và Kim Tuyên đều cho kết quả khả quan: Số lần phun thuốc giảm từ 42,86 – 69,23%, hiệu quả tăng từ 4,19 – 6,05%. Đặc biệt, các loại sâu hại chính trên cây chètại những vùng này đều giảm rõ rệt, cây chè sinh trưởng tốt, năng suất chè tăng từ 27.4 – 37,38%. TS Ngọc đề nghị sớm áp dụng Quy trình kĩ thuật sản xuất nguyên liệu chè an toàn trên trong phạm vi cả nước. |
Nguyễn Quý